Từ GIẢNG ĐƯỜNG tới CHIẾN HÀO về BỤC GIẢNG

Từ giảng đường tới chiến hào

Mùa hè năm 1972 - năm cao điểm của chiến tranh, từng đoàn quân rầm rập ra mặt trận, thày trò Trường ĐHTH Hà Nội chúng tôi cũng không nằm ngoài dòng thác đó. Trước khi rời 19 Lê Thánh Tông - cái nôi của Trường ĐHTH Hà Nội, tại một nơi sơ tán, Cự Đà, Hà Tây cũ, thầy Hiệu trưởng Ngụy Như KonTum đã căn dặn chúng tôi: Dù có gian khổ hay hy sinh cũng phải giữ cho được truyền thống của nhà trường. Nghe theo lời căn dặn của thầy Hiệu trưởng, chúng tôi đã chiến đấu hết mình trên khắp các mặt trận, có người đã ngã xuống, có người đã trở về, tất cả vì Tổ Quốc, vì thế hệ tương lai.

 

Giáo sư Lâm Ngọc Thiềm trong ngày Đại hội Thi đua yêu nước ĐHQGHN lần thứ II, ngày 6/8/2005.

Ảnh: Bùi Tuấn

Khi được hỏi về nguyên do nào đưa một tiến sĩ Hóa học góp mặt vào một trong những cuộc trường chinh vĩ đại của dân tộc. Ngoài những nguyên do như truyền thống, lịch sử, tổ tiên mà bất kì con dân đất Việt nào cũng có,… Tôi nhớ lại: Tôi được cử đi học tại Liên Xô - đất nước của những chiến sĩ Hồng quân vĩ đại, đã cứu nhân loại khỏi họa phát xít. Không biết tự lúc nào, tinh thần yêu nước và lòng căm thù quân giặc xâm lăng đã chảy trong dòng máu của tôi và được ngọn lửa Cách mạng Nga thôi thúc. Giáo sư hướng dẫn tôi là một một nhà giáo, một người lính Hồng quân còn ám mùi khói súng từ chiến hào đã quay lại giảng đường, đã có lần chia sẻ với tôi: Khi phát xít Đức giày xéo quê hương, tôi cũng ra trận và cũng từ mặt trận trở về với giảng đường. Anh thử suy nghĩ xem khi mà đất nước đang bị họa ngoại xâm thì chúng ta phải làm gì?”.

Thầy Hiệu trưởng và các CBGD

lên đường nhập ngũ 29/5/1972. (Ảnh tư liệu)

Ảnh tư liệu từ video clip của kênh QPVN

Tinh thần Cách mạng Tháng 10 và niềm tự hào của nước Nga đã là nguồn động viên rất lớn cho tôi khi học tập tại đây. Tôi đã hiểu những điều người thầy - chiến sĩ của mình căn dặn và sau này khi Tổ quốc gọi, tôi đã gác bút nghiên lên đường ra trận dù độ tuổi của tôi lúc này không còn trẻ - 32 tuổi. “Được đào tạo trong ngôi trường XHCN Xô Viết và sự dìu dắt của những con người Nga vĩ đại, đôn hậu đặt trong khung cảnh đau thương của đất nước, dân tộc. Bản thân tôi cũng cảm thấy lẻ loi khi không được tham gia trên tuyến đầu chống Mỹ và góp chút ít công sức dù nhỏ bé vào cuộc chiến đấu gian khổ của cả thế hệ chúng tôi”.

Tôi đã tham gia vào một số trận đánh nhưng có hai kỷ niệm khiến tôi không thể nào quên.

Đánh địch có nhiều phương án rất linh hoạt. Trong một trận đánh, khi trận địa pháo 57mm cùng hoả lực 12,7mm của đại đội 512 chúng tôi đã bố trí xong ở vị trí bí mật. Tôi được giao nhiệm vụ điểm hoả tại trận địa giả, khi nhận được lệnh từ sở chỉ huy phát ra, cũng đúng là lúc máy bay địch bổ nhào công kích vào trận địa. Pháo nổ, khói bay mù mịt, máy bay địch tưởng là trận địa pháo của ta thi nhau bổ nhào dội bom, lúc đó pháo cao xạ từ trận địa thực đồng loạt phát hoả làm cho chúng trở tay không kịp. Lần đánh trả này, đơn vị chúng tôi đã hạ được máy bay địch và cuộc công kích của máy bay địch đã bị bẻ gẫy.

Theo dòng hồi tưởng của tôi, thì cả nước lúc đó có hai tiến sĩ ra trận, đó là Tiến sĩ Ngô Huy Cẩn (thân sinh Giáo sư Ngô Bảo Châu) và tôi, giảng viên Trường ĐHTH Hà Nội. Trong một lần đến thăm trận địa phòng không bảo vệ bầu trời Hà Nội và Hải Phòng, trước thời khắc mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ trên không (12/1972), Tổng bí thư Lê Duẩn đã vỗ vào vai tôi và hỏi:

Tổng bí thư Lê Duẩn với Binh nhì Lâm Ngọc Thiềm

trước trận “Điện Biên Phủ trên không” năm 1972

(Ảnh tư liệu thuộc bảo tàng PKKQ)

Thầy giáo trở thành chiến sĩ có cảm nghĩ gì không?

Tôi còn lúng túng chưa biết trả lời sao, đành đem mấy câu thơ trên báo tường, viết sau trận đánh ra đọc:

Hôm qua trên bục cùng học sinh,

Bảng đen tôi viết những phương trình.

Hôm nay chững chạc màu quân phục,

Quen dần nếp sống một chiến binh.

Sau này tôi được biết, trên đường trở về Hà Nội, nói chuyện với một đơn vị canh giữ bầu trời Hà Nội, Tổng bí thư đã nói:

Cả nước ra trận, phó tiến sĩ cũng thành chiến sĩ thì chúng ta không thể không chiến thắng dù kẻ địch có ngoan cố, xảo quyệt đến đâu đi chăng nữa…”.

Nhớ lại khoảnh khắc khó quên của đời binh nghiệp, tôi thầm nghĩ. “Để làm được mộtngười chiến sĩ, đời tôi chỉ có một mà thôi. Nhưng để trở thành một tiến sĩ, hay cao hơn, chúng ta có thể làm được nhiều lần. Thời gian quý vô cùng và tôi thật vinh dự khi được là nhà giáo-chiến sĩ chống Mỹ cứu nước

Và thật đáng quý khi trí tuệ lại được thể hiện ngay trong những ngày Tổ quốc đang tiến hành trận đánh lịch sử “Điện Biên Phủ trên không”. Cống hiến đó trở thành kỷ niệm không bao giờ có thể quên đối với tôi. Trong những ngày tháng ác liệt, phía Liên Xô chỉ có thể cung cấp cho Việt Nam tên lửa, còn sử dụng thế nào phải do chúng ta tự làm chủ. Những kiến thức hóa học được trang bị trong những ngày học tại Liên Xô đã giúp chiến sĩ như tôi cùng các đồng đội đã trực tiếp, trong điều kiện dã chiến, ngoài cánh đồng, giữa đêm tối nạp nhiên liệu vào tên lửa SAM - 2, một trong những loại nhiên liệu cực độc, có thể gây ảnh hưởng đến sinh sản và phát bệnh ung thư nếu con người bị phơi nhiễm. Tự tin vào những kiến thức đã được học, nên mặc dù không có trang bị an toàn như trong phòng thí nghiệm, nhưng chúng tôi bất chấp mưa bom bão đạn của kẻ thù vẫn kiên trì đứng “tiếp lửa” cho tên lửa diệt máy bay Mỹ bằng cách dùng áo khoác trùm lên đầu, khẩu trang, khăn mặt thấm ướt bịt miệng và lợi dụng hướng gió để nạp nhiên liệu cho đủ cơ số đạn đưa lên bệ phóng góp phần trong chiến thắng vang dội của quân dân Việt Nam tháng 12 năm ấy. Sau trận đánh, trên báo tường của đơn vị, tôi đã tâm sự:

“... Tôi đi vào trận đánh hôm nay,

Như trước đây ta bước lên bục giảng,

Tay dập xoá bảng đen màu phấn trắng,

Nét dọc ngang bề bộn những phương trình.

Trong chiến hào ta hiểu thêm giá những hy sinh,

Tổ quốc trả cho mỗi giờ ta sống,

Bao thân thương, hy vọng lẫn thành công,

Mở cho tôi một khoảng tầm viễn vọng".

Rời chiến hào về bục giảng

Chiến tranh đã qua đi, tôi - thầy giáo - chiến sĩ đã trở lại bục giảng, gắn bó với bảng đen phấn trắng với một tư thế vững vàng hơn. Tôi đã thật sự yêu nghề, say nghề và dồn hết tâm huyết của mình cho nghề.

Trước khi trở thành chiến sĩ, tôi là sinh viên khoá 4 ngành Hoá, Trường ĐHTH Hà Nội. Sau khi vào trường khoảng một tuần, tôi được cử sang Liên Xô cũ học tập và đã tốt nghiệp bằng đỏ (loại xuất sắc) rồi được chuyển tiếp nghiên cứu sinh. Khi về nước, tôi đã công tác tại Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật nhà nước, Viện Khoa học Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) rồi trở thành một cán bộ giảng dạy tại Trường ĐHTH Hà Nội. Ngót 50 năm gắn bó với nghề dạy học, trong lĩnh vực Hoá học lượng tử, đã có trên 100 công trình khoa học, gần 30 đầu sách giáo trình, chuyên khảo, từ điển và dịch thuật đã xuất bản, trong đó một số đã được tái bản; đã chủ trì và tham gia 6 đề tài nghiên cứu khoa học về quan hệ giữa cấu trúc hoá học với hoạt tính sinh học dành cho loại hợp chất tự nhiên được tách chiết từ thảo mộc nhiệt đới ở Việt Nam có nhiều ứng dụng trong thực tiễn. Đây là vấn đề khoa học có tính thời sự thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước do khi biết được quan hệ giữa hoạt tính và cấu trúc (Quantitative Structure - Activity Relationships - QSAR) người ta có thể tìm hoặc dự đoán được những hoạt tính vượt trội của các loại dược phẩm cần cho chữa bệnh.

       Trong giảng dạy đào tạo, tôi đã hướng dẫn ngót 40 thạc sĩ và tiến sĩ đã bảo vệ thành công luận án của mình. Thường bắt đầu năm học, tôi chọn một em sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, có ý chí vươn lên tặng một cuốn sách do chính tôi viết với kì vọng em đó sẽ trưởng thành trong những năm ngồi trên ghế của Trường ĐHKHTN. Các học trò của tôi, đặc biệt là hệ đào tạo cử nhân khoa học tài năng (CNKHTN) ở Bắc Mỹ, châu Âu, Nhật Bản hay tại Úc đều đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ và đã có những thành công đáng kể trên bước đường khoa học của mình.                

 

 

 

 

 

GS.Lâm Ngọc Thiềm với các

sinh viên hệ CNKHTN

Tin vào một “Điện Biên Phủ trí tuệ Việt Nam” trong khoa học.

Thực tế giảng dạy và nghiên cứu khoa học trong ngót 50 năm đã làm tôi ngộ ra một điều: Một nhà khoa học đi đến thành công phải có ít nhất 4 yếu tố hợp thành.Đó là lòng say mê, ý chí vượt khó, tinh thần tự học và đức tính khiêm tốn, làm việc trong một môi trường khoa học. Chính những điều này không lúc nào thừa ở một nhà khoa học chân chính”. Nay, tóc đã bạc, sức khỏe đã không còn như trước, nhưng tôi vẫn gắn liền với học trò, với phòng thí nghiệm, với những khát khao đi tìm các kiến thức mới lạ mà mình chưa biết đến.

Text Box:  GS Lâm Ngọc Thiềm trên giảng đường

Năm nay tôi đã bước sang tuổi 77 - cái tuổi đã đến lúc được nghỉ ngơi của một viên chức nhà nước, có phóng viên hỏi tôi về dự định trong thời gian tới. Tôi đã tâm sự rằng: "ngót 50 năm qua, tôi đã trải qua nhiều công việc từ cán bộ nghiên cứu, cán bộ giảng dạy, đến chiến sĩ quân đội rồi lại trở về tiếp tục nghiên cứu - giảng dạy, tham gia quản lý ở cương vị Chủ nhiệm bộ môn (trường Đại học Kỹ thuật Quân sự), Chủ nhiệm khoa Tại chức (Trường ĐHTH Hà Nội), phó Giám đốc Trung tâm Ứng dụng Tin học trong Hoá học, Chủ nhiệm hệ đào tạo CNKHTN ngành Hoá học, Trường ĐHKHTN, ĐHQGHN… nên không có lý do gì khiến tôi không yêu nghề dạy học. Tôi tự hào là nhà giáo - chiến sĩ đã từ giảng đường tới chiến hào rồi lại từ chiến hào về với bục giảng, chừng nào còn sức khoẻ tôi còn tiếp tục cống hiến cho sự nghiệp trồng người cả về kiến thức lẫn phẩm giá cho lớp sinh viên hôm nay".

Chiến tranh đã lùi xa hơn 40 năm, lớp thầy giáo - chiến sĩ của Việt Nam nói chung, của Trường ĐHTH Hà Nội năm xưa nói riêng, đang ở tuổi thứ 60 đã lao động và chiến đấu như thế đó. Lớp trẻ hôm nay mang trên vai trách nhiệm nặng nề là phải làm gì để xứng đáng với truyền thống xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước của thế hệ đi trước. Trong cuốn sách: Các nhà Hoá học nhận giải Nobel xuất bản năm 2012, tôi đã tâm sự cùng các nhà hoá học trẻ tuổi:“Tại sao chúng ta không có quyền hy vọng, một nhà hóa học Việt Nam vào một ngày đầu tháng 10 nhận được một cú điện thoại từ Stockhohm báo tin ngày 10 tháng 12 đến Hoàng cung Thụy Điển để nhận giải Nobel Hóa học khi Thăng Long-Hà Nội bước sang thiên niên kỉ thứ 2 ở tuổi thứ 2050.

Chúng ta hoàn toàn tin vào trí tuệ Việt Nam, miễn là các nhà hóa học có hoài bão, có quyết tâm, có ý chí vươn lên bằng chính nội lực của mình, không sợ thử thách và dám làm những gì mình mong muốn.

Vinh quang chỉ dành cho những ai dám đi trên con đường chưa hề có lối đi. Các bạn trẻ hãy sắm đủ cho mình hành trang kiến thức và nghị lực. Nào, Lên đường!”

Tôi, Nhà giáo-Chiến sĩ “Điện Biên Phủ trên không”- hi vọng và tin rằng lớp lớp trí thức trẻ hôm nay sẽ làm nên “Điện Biên Phủ trí tuệ Việt Nam” trong khoa học.

Hàng năm, cứ vào ngày 29 tháng 5, những người lính chúng tôi gặp lại nhau để ôn lại một thời đã qua. Năm 2012, kỉ niệm 40 năm chiến thắng Điên Biên Phủ trên không, chúng tôi gặp nhau tại một nhà hàng bên cạnh Viện bảo tàng Phòng không Không quân. Nhìn những khẩu pháo 57 ly mà  tôi đã  từng  là  pháo  thủ  số 3 và những quả tên lửa SAM-2 mà tôi đã từng gắn bó suốt 12 ngày đêm năm đó; đã có biết bao đồng đội của tôi đã ngã xuống để có ngày hôm nay. Tôi bồi hồi nhớ lại:

          Bốn mươi năm

                                   29/5/2012

 

Lâu rồi nhớ lại tần ngần

Bẩy Hai cao điểm cái lần tiễn tôi

Đi trong bom đạn một thời

Lên đường ra trận trò tôi cùng thày

 

Ngược về dạo ấy hôm nay

Bâng khuâng mỗi bước ai hay mất còn?

Một thời lửa đạn mưa bom

Hạ Long- sông Cấm nhớ còn trong tôi?

 

 

40 năm tuổi, xa rồi!

Thầy trò xếp bút rời nơi giảng đường

Cho dù muôn nẻo chiến trường

Cho tôi được nhớ, được thương, được chờ

Ước gì có một giấc mơ

Để tôi ôn lại lính xưa bạn bè!

Để trong yên lặng trưa hè

Tuổi xưa thức dạy nhớ về lính tôi.

Bỗng nhiên tim đập đổ hồi

Mách rằng đời lính một thời mang theo!

Bỗng nhiên tim đập đổ hồi

Mách rằng Tổng Hợp, Trường tôi Anh hùng!

(GS. TS Lâm Ngọc Thiềm - Giảng viên cao cấp Khoa Hóa học)

Bài viết được đăng trong tuyển tập hội thảo "Một thời để nhớ" kỷ niệm 60 năm truyền thống Trường Đại học Tổng hợp Hà Nôi - Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN

Nhà tài trợ

>