THÀY VÀ TRÒ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TỔNG HỢP HÀ NỘI TRONG NHỮNG NĂM THÁNG XA THỦ ĐÔ

Vào đầu những năm 60 của thế kỷ trước, đất nước ta đang trong thời kỳ hai miền chia cắt bởi chiến tranh. Khắp cả nước, khí thế chống Mỹ cứu nước ngày càng dâng cao. Ở miền Nam, quân dân ta đang chiến thắng giòn giã. Ở miền Bắc, khắp nơi thi đua lao động, học tập vì miền Nam ruột thịt.

Quân dân miền Nam ngày càng thắng lớn, đế quốc Mỹ và bè lũ tai sai ngày càng lâm vào thế bị động.

Để giải cứu nỗi nguy khốn ở miền Nam, năm 1964 đế quốc Mỹ chủ trương mở rộng chiến tranh ra toàn đất nước Việt Nam, bằng cách thực hiện cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân ở hậu phương lớn miền Bắc. Để đối phó với chiến tranh phá hoại, Nhà nước chủ trương sơ tán các trường đại học ra khỏi thành phố Hà Nội.

Trường ĐHTH Hà Nội sau 9 năm thành lập đang đi vào giai đoạn phát triển, khắp nơi thi đua giảng dạy, học tập vì miền Nam ruột thịt, nhưng thực hiện chủ trương và theo quyết định của Nhà nước, trường đã sơ tán lên huyện Đại Từ, tỉnh Bắc Thái (nay là tỉnh Thái Nguyên). Khối Hiệu bộ và các Khoa Toán, Lý, Hóa ở xã Văn Yên; Khoa Sinh vật ở xã Ký Phú; Khoa Văn và Khoa Sử ở xã Vạn Thọ.

Xây dựng cơ sở vật chất nơi sơ tán

Hầu hết cán bộ và sinh viên đều ở nhờ nhà dân, chỉ nơi nào dân quá thưa mới phải làm nhà ở.

Mỗi Khoa xây dựng: một nhà làm việc của Ban Chủ nhiệm Khoa và văn phòng; một nhà làm phòng họp, đồng thời làm nơi sinh hoạt chung của Khoa; một thư viện và bên cạnh là phòng đọc. Mỗi lớp sinh viên xây dụng một nhà ăn có bếp nấu bên cạnh và một lớp học. Tất cả các nhà đều lợp bằng tranh nứa, che bằng phên đan. Bàn học, ghế ngồi đều tự tạo bằng cách cắm cọc xuống đất làm chân, đặt 5 cây luồng làm mặt bàn, 3 cây luồng làm mặt ghế.

Các Giáo sư tại nơi sơ tán

 

Cuộc sống và học tập nơi sơ tán

Buổi sáng các thày cô và sinh viên đa phần là nhịn ăn. Bởi chẳng biết ăn gì. Muốn ăn cái bánh rán phải ra tận Lục Ba. Muốn ăn bát phở, bát mì “không người lái” (loại mì không có thịt) phải ra tận Đại Từ.

Thỉnh thoảng, may mắn kiếm được củ sắn, củ khoai ăn tối, thì không quên dành một chút để sáng hôm sau.

Kho lương thực, thực phẩm của mỗi Khoa chỉ có mấy loại chính: Gạo, bột mì (cung cấp theo tem phiếu với số lượng ngang nhau), muối, nước mắm và mỡ. Thịt cũng được cấp theo tem phiếu.

Bếp tập thể nấu hai bữa chính: Bữa trưa, ăn cơm với thức ăn thanh đạm; Bữa tối thì mỗi suất chỉ gồm một nắm bột mì luộc ăn với canh “toàn quốc” (canh chỉ có loáng thoáng rau).

Tuy đời sống vật chất vô cùng khó khăn, nhưng cán bộ vẫn giảng dạy tận tình, chu đáo, sinh viên học tập say mê với tinh thần thi đua yêu nước, chống Mỹ vì miền Nam ruột thịt.

Các Khoa đều trong giai đoạn phát triển, nên số giáo trình phải soạn mới rất nhiều. Chỉ với ngọn đèn dầu hỏa các giáo trình vẫn được soạn đầy đủ, chất lượng.

Giáo sư Ngụy Như KonTum - Hiệu trưởng đầu tiên của Trường  Đại học Tổng hợp Hà Nội

thăm khu nhà ăn tại nơi sơ tán

 

Nghiên cứu khoa học, nghiên cứu ứng dụng và phục vụ chiến đấu

Trong điều kiện đời sống vật chất rất khó khăn, tài liệu vô cùng khan hiếm, nhưng các thầy cô giáo ở tất cả các Khoa đều quyết tâm khắc phục khó khăn, nêu cao tinh thần tự học, tự nghiên cứu.

Nhiều thầy, cô giáo đã thu được kết quả nghiên cứu có chất lượng, trong đó có những bài được công bố trên tạp chí quốc tế, những kết quả về lý thuyết vectơ đặc trưng và ứng dụng của Giáo sư Hoàng Hữu Đường được đăng trên tạp chí Phương trình vi phân của Liên Xô.

Trong thời gian sơ tán các khoa đều cử nhiều cán bộ và sinh viên đi tham gia thực tế và phục vụ chiến đấu. Chỉ riêng Khoa Toán từ đầu năm 1965 đến cuối năm 1967, đã có 7 đoàn cán bộ sinh viên tham gia thực tế và phục vụ chiến đấu.

Năm 1965 đến đầu năm 1966 Giáo sư Lê Văn Thiêm, Hiệu phó của Nhà trường và thầy Nguyên Văn Lâm cùng một số sinh viên năm cuối của khóa 7 đã phối hợp cùng Cục đường sông – Bộ Giao thông vận tải sử dụng phương pháp nổ mìn định hướng để đào sâu kênh Nhà Lê giúp cho việc vận chuyển vũ khí vào Nam được dễ dàng hơn.

Năm 1976, các thầy Nguyễn Bác Văn, Phan Văn Hạp, Nguyễn Quý Hỷ, Phạm Quang Đức cùng một số sinh viên năm cuối đã sửa chữa Bảng bắn pháo do Liên Xô lập tại Bộ Tư lệnh pháo binh cho phù hợp với Việt Nam.

Trong hai năm 1966 và 1967, các thầy Lê Minh Khanh, Phạm Hữu Vĩnh, Đào Huy Bích và Phan Văn Hạp đã dẫn sinh viên năm cuối ngành Cơ đến Viện Kỹ thuật giao thông để tính toán các thông số kỹ thuật làm cầu phao, cầu dây. Đây là những loại cầu rất cần dùng để đối phó với chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ.

Trong các năm 1965, 1966, thầy Nguyễn Hữu Ngự và thầy Trần Đức Long đã được cử đi thực tế chiến trường tại Ban Tham mưu vận tải - Đoàn vận tải Trường Sơn (Đoàn 559), để góp phần ứng dụng Toán học trong vận tải quân sự.

Trong điều kiện khó khăn tại các khu sơ tán cán bộ và sinh viên Trường vẫn miệt mài học tập và nghiên cứu khoa học 

Tâm tư của thầy và trò trong giai đoạn sơ tán

Từ năm 1965, đế quốc Mỹ ngày càng leo thang ném bom, bắn phá miền Bắc gây đau thương tang tóc cho toàn đất nước Việt Nam.

Trong thực tế đau thương vô hạn đó lòng căm thù giặc Mỹ lên cao, vượt qua mọi khó khăn thày và trò Trường ĐHTH Hà Nội quyết tâm dạy tốt và học tốt.

Mỗi bài giảng được thầy chuẩn bị chu đáo, chất lượng, diễn đạt khúc chiết, nhiệt tình.

Mỗi bài học được trò lĩnh hội đầy đủ, chu đáo.

Chỉ với ngọn đèn dầu hỏa, mì nắm, cơm với canh “toàn quốc”, nhưng kết quả dạy và học của thày trò Nhà trường vẫn đạt kết quả tốt.

Mối quan hệ của Trường và nhân dân nơi sơ tán

Ngoài việc dành thời gian xây dựng những ngôi nhà nho nhỏ cho cán bộ, sinh viên sơ tán. Nhân dân Đại Từ còn nhiệt tình hỗ trợ, giúp đỡ khi lấy gỗ, luồng để xây dựng thư viện, nhà ăn,…..

Nhiều gia đình còn giành cả củ khoai, miếng sắn đãi cán bộ, sinh viên vào buổi sáng.

Có thể nói trong thời gian sơ tán cán bộ và sinh viên Trường ĐHTH Hà Nội đã được nhân dân huyện Đại Từ đùm bọc giúp đỡ rất nhiệt tình. Mối quan hệ này đã để lại một tình nghĩa sâu nặng giữa cán bộ, sinh viên Trường ĐHTH Hà Nội với nhân dân huyện Đại Từ.

Cán bộ, sinh viên Trường ĐHTH Hà Nội còn nhớ mãi câu chuyện Giáo sư Hoàng Xuân Nhị qua Suối Đôi:

Giáo sư Hoàng Xuân Nhị, Chủ nhiệm Khoa Văn cần về công tác gấp tại Hà Nội, nhưng không tài nào kiếm được đò qua Suối Đôi. Phó chủ nhiệm Khoa Tôn Gia Ngân nẩy ra sáng kiến nhờ nhân dân giúp đỡ. Khi được đề nghị giúp đỡ, một Bác nông dân địa phương đã đặt Giáo sư Hoàng Xuân Nhị lên mình trâu, rồi cho trâu bơi qua Suối Đôi. Từ đó sự kiện này đã được lưu truyền bằng hai câu thơ (kiểu như trong Tam quốc diễn nghĩa):

“Qua Suối Đôi Hoàng Xuân Nhị cưỡi trâu

Phò minh Chủ Tôn Gia Ngân hiến kế”!

GS Dương Hữu Thời (trái) GS Ngụy Như KonTum (giữa) GS Nguyễn Văn Chiển (phải)

cùng nhân dân tại nơi sơ tán

Những kỷ niệm sâu sắc nơi sơ tán

Với những ngày sơ tán, được nhân dân địa phương đùm bọc, che chở, cán bộ và sinh viên Trường ĐHTH Hà Nội luôn ghi tạc công ơn của nhân dân huyện Đại Từ.

Tuy cuộc sống sơ tán vô cùng gian nan, vất vả, nhưng thày trò Trường ĐHTH Hà Nội luôn luôn tin tưởng tuyệt đối vào chiến thắng giặc Mỹ, luôn lạc quan, yêu đời.

Tại mái nhà tranh sơ tán đã hình thành bài thơ Thi Xương mà các nhân vật xuất hiện trong bài thơ đều là cán bộ giảng dạy của Khoa Toán được nhiều người ưa thích:

Một sáng nọ đứng bên cửa sổ,

Bác Lân[1] ta ngắm bộ xương sườn,

Hai tay lần những đốt xương,

Rằng ta gầy nhất thế gian này rồi!

Bác Lân nói chưa dứt lời,

Phòng bên đã vọng tiếng người tự kêu:

Bớ Lân xin chớ nói liều,

Tôn[2] nay ắt hẳn xương nhiều hơn Lân!

Người khoe cốt, kẻ chìa gân,

Mỗi người một vẻ mười phân gầy còm!

Lân ta lớn tiếng hùng hồn:

Gầy như ông Chính[3] ta còn coi khinh!

Tưởng rằng nói khoác một mình,

Nào ngờ ông Chính thình lình bước ra!

Mới nhìn thấp thoáng nẻo xa,

Hai chàng sụp lạy thôi ta thua rồi!

Ông Chính vừa nói vừa cười,

Chắc rằng gầy nhất trên đời là ta!

Ba chàng nghe vọng nẻo xa,

Tiếng tranh cãi chức đại ca to dần.

Ông Toản4, ông Đạo5 tới gần,

Té ra vẫn chuyện ai gân, xương nhiều.

Cãi nhau suốt cả buổi chiều,

Nay nhờ tập thể phán điều phân minh.

Ông Thịnh6 giọng rất bất bình,

Thi gầy lại vắng một mình ta sao?

Vừa gầy ông lại vừa cao,

Hạc thờ mà vẫn không sao sánh bì!

Năm chàng quỳ lậy tức thì,

Suy tôn ông Thịnh trị vì đại ca!

Tin đồn tỏa khắp gần xa,

Lều tranh Khoa Toán có ba vua gầy,

Các ông đèn sách cả ngày,

Để mong giữ được, giải này thường xuyên.

Ai ơi xin nhớ đừng quên:

Thi gầy xin hãy ghé bên Khoa mình.

Toán – Cơ – Tin học, Thượng Đình,

Là nơi đã có “phát minh ra gầy”!

Tâm sự của thày trò khi trở lại Thủ đô

Sau 4 năm sơ tán tại Đại Từ kết thúc năm học 1968 - 1969, thày trò Trường ĐHTH Hà Nội quá độ chuyển về Đông Anh và Hè năm 1970 chuyển về nội thành Hà Nội.

Với khí thế chiến thắng cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, thày trò Trường ĐHTH Hà Nội càng hăng hái thi đua dạy và học.

Từ năm học 1970 - 1971, chất lượng giảng dạy và học tập có điều kiện nâng cao hơn, việc nghiên cứu và ứng dụng cũng thuận lợi hơn. Bởi vậy, nhiều kết quả nghiên cứu có chất lượng cao dần được hình thành.

 

(GS. TS Đặng Huy Ruận - Nguyên chủ nhiệm Khoa Toán Cơ Tin học)

Bài viết được đăng trong kỷ yếu hội thảo "Một thời để nhớ"  kỷ niệm 60 năm truyền thống Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội -Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN

 


[1]Thầy Nguyễn Khắc Lân

[2]Thầy Võ Đức Tôn; Thầy Phan Đức Chính; 4 Thầy Nguyễn Quốc Toản; 5 Thầy Đặng Hữu Đạo; 6 Thầy Lê Đình Thịnh.

Nhà tài trợ

>